Theo chuyên gia, đề xuất tổng mức giảm trừ tối đa cho chi phí y tế, giáo dục với người nộp thuế thu nhập cá nhân là 47 triệu đồng/năm vẫn còn thấp, cần nâng cao hơn.
Ngoài mức giảm trừ gia cảnh hiện hành 15,5 triệu đồng/tháng cho bản thân người nộp thuế thu nhập cá nhân (TNCN) và 6,2 triệu đồng/tháng cho mỗi người phụ thuộc, Bộ Tài chính mới đây đề xuất tổng mức giảm trừ cho chi phí y tế, giáo dục tối đa là 47 triệu đồng/năm tại kỳ tính thuế 2026.
Theo ý kiến của nhiều chuyên gia, đề xuất này là bước tiến mới trong điều chỉnh chính sách thuế theo hướng phù hợp hơn với thực tế đời sống. Tuy nhiên, mức giảm trừ còn thấp và chưa hoàn toàn phù hợp với thực tế chi phí sinh hoạt, nhất là tại các thành phố lớn – đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục khi chi phí đầu tư cho con cái ngày càng lớn.

Nhiều ý kiến đề xuất mức giảm trừ cho y tế, giáo dục cần nâng cao hơn. (Ảnh minh họa: Thời báo tài chính)
TS. Nguyễn Ngọc Tú – nguyên Vụ trưởng Tổng cục Thuế, giảng viên Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội – phân tích, với chi phí y tế, nên chia thành hai nhóm.
Thứ nhất là nhóm bệnh hiểm nghèo theo danh mục của Bộ Y tế, nên cho phép được trừ toàn bộ chi phí thực tế theo hóa đơn, chứng từ. Đây là trường hợp liên quan đến tính mạng, mang tính an sinh xã hội nên cần được hỗ trợ tối đa.
Thứ hai là nhóm bệnh thông thường, có thể áp dụng mức giảm trừ tối đa khoảng 4 triệu đồng/tháng, tương đương khoảng 50 triệu đồng/năm, nhằm chia sẻ một phần chi phí giữa Nhà nước và người dân.
Đối với chi phí giáo dục, ông Tú đề xuất mức giảm trừ tối đa khoảng 5 triệu đồng/tháng, tương đương 60 triệu đồng/năm, phù hợp với định hướng giáo dục là quốc sách hàng đầu và đầu tư cho tương lai.
“Về lâu dài, tôi đề xuất nên cho phép giảm trừ chi phí y tế và giáo dục theo thực tế, dựa trên hóa đơn, chứng từ hợp lệ khi điều kiện ngân sách cho phép. Đồng thời, chính sách cũng cần mở rộng phạm vi áp dụng, bao gồm cả chi phí học tập và chữa bệnh trong và ngoài nước, không chỉ bó hẹp phạm vi trong nước.
Cần mở rộng khái niệm học tập theo hướng học tập suốt đời, bao gồm các khóa học kỹ năng, nghệ thuật, thể chất như học ngoại ngữ, âm nhạc, thể thao, kỹ năng mềm…nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đời sống người dân”, TS Nguyễn Ngọc Tú nêu quan điểm.
Đồng quan điểm, luật sư Nguyễn Văn Được – Ủy viên thường trực Hội Tư vấn thuế Việt Nam – cho biết, đề xuất điều chỉnh liên quan đến thuế TNCN lần này cho thấy nỗ lực tái định vị vai trò của chính sách thuế, không chỉ dừng ở chức năng thu ngân sách mà còn trở thành công cụ điều tiết hành vi và hỗ trợ phát triển bền vững trong bối cảnh kinh tế chuyển đổi.
Việc cho phép giảm trừ chi phí y tế và giáo dục – đào tạo thể hiện sự chuyển dịch từ tư duy “đánh thuế trên danh nghĩa” sang “đánh thuế trên khả năng thực”.
“Chi tiêu cho y tế và giáo dục không đơn thuần là tiêu dùng mà là khoản đầu tư dài hạn cho chất lượng nguồn nhân lực. Việc đưa hai yếu tố này vào cơ chế giảm trừ là hợp lý, đồng thời giúp hệ thống thuế tiệm cận hơn với thông lệ quốc tế”, ông Được đánh giá.
Tuy nhiên, ông Được cũng cho rằng, mức tối đa 47 triệu đồng/năm đặt trong bối cảnh chi phí sinh hoạt ngày càng tăng, đặc biệt tại các đô thị lớn là chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế. Theo ông Được, cần phải nâng lên mức cao hơn, trong đó khoảng 50 – 60 triệu đồng đối với giáo dục và khoảng 60 triệu đồng đối với y tế.
Bởi với nhóm lao động có thu nhập trung bình và khá, mức giảm trừ Bộ Tài chính đang đề xuất có ý nghĩa nhất định nhưng chưa chắc đã phản ánh đầy đủ chi phí thực tế, nhất là khi gia đình có con theo học các chương trình giáo dục chất lượng cao hoặc phát sinh chi phí y tế ngoài phạm vi bảo hiểm.
Trong khi đó, với nhóm thu nhập thấp, khả năng hưởng lợi từ chính sách lại hạn chế do nghĩa vụ thuế không lớn, dẫn đến hiệu ứng phân bổ chưa thực sự cân bằng.
Ngoài ra, cũng theo ông Được, tính hiệu quả của chính sách không chỉ phụ thuộc vào con số tuyệt đối mà còn nằm ở cách thiết kế cơ chế thực thi. Nếu thủ tục chứng minh chi phí phức tạp, thiếu đồng bộ, người nộp thuế sẽ gặp khó khăn trong tiếp cận.
Ngược lại, nếu triển khai theo hướng số hóa, liên thông dữ liệu giữa cơ sở y tế, giáo dục và cơ quan thuế thì chính sách không chỉ giảm gánh nặng tài chính mà còn góp phần nâng cao tính minh bạch.
Ông Được nhấn mạnh, về dài hạn, chính sách này gửi đi thông điệp khuyến khích đầu tư vào vốn con người – một trụ cột quan trọng của tăng trưởng bền vững. Khi người dân cảm nhận rõ các khoản chi thiết yếu được chia sẻ thông qua chính sách thuế, niềm tin vào hệ thống cũng sẽ được củng cố tích cực hơn.

Theo chuyên gia, việc đưa giáo dục và ý tế vào giảm trừ thuế là bước tiến, phù hợp với thời đại mới. (Ảnh minh họa: VnEconomy)
Chi phí giáo dục, y tế ngày càng “ngốn” tiền người dân
Theo nhiều người dân, cuộc sống ngày càng hiện đại, yêu cầu chất lượng sống ngày càng cao đã khiến chi phí cho giáo dục, y tế ngày càng tốn kém, thậm chí “không chi không được” vì đã trở thành nhu cầu cơ bản, cần thiết.
Chị Tô Thị Mai Hương (phường Đống Đa, TP. Hà Nội) cho biết, chị khá kỳ vọng khi nghe đề xuất cho phép giảm trừ chi phí giáo dục và y tế khi tính thuế thu nhập cá nhân. Tuy nhiên, khi tìm hiểu kỹ, chị Hương nhận thấy mức giảm trừ tối đa 23 triệu đồng/năm cho y tế và 24 triệu đồng/năm cho giáo dục vẫn còn thấp so với thực tế.
“Tôi có hai con, một con học tiểu học, một con học năm nhất Đại học. Tiền học bán trú, học thêm tiếng Anh, kỹ năng mềm mỗi tháng khoảng 5 – 6 triệu đồng cho con nhỏ. Còn tiền học cho con lớn mỗi tháng khoảng 3 triệu đồng. Như vậy, nếu tính cả năm học thì chi phí ít nhất cũng hơn 90 triệu đồng”, chị Mai Hương chia sẻ.
Với thực tế này, chị Hương kiến nghị nên quy định giảm trừ nên tính theo số lượng con hoặc theo chi phí thực tế để đảm bảo phù hợp hơn với nhu cầu của các gia đình có nhiều người phụ thuộc.
“Chi phí nuôi con hiện nay rất cao, đặc biệt là ở thành phố lớn như Hà Nội, nếu chỉ áp dụng mức chung cho tất cả trường hợp thì chưa phản ánh đúng thực tế”, chị Mai Hương nêu ý kiến.
Tương tự, anh Phạm Hồng Quân (phường Hồng Hà, TP. Hà Nội) cũng bày tỏ: “Tôi đang nuôi mẹ già hơn 80 tuổi và một con nhỏ. Riêng chi phí khám chữa bệnh cho mẹ mỗi năm cũng mất khoảng 30 – 40 triệu đồng. Trong khi đó, chi phí học của con thì ngày càng tăng theo độ tuổi, càng học cao càng tốn kém.
Nếu mức giảm trừ cho y tế, giáo dục tăng thêm thì những người nộp thuế như tôi sẽ bớt gánh nặng, đồng thời cũng khuyến khích các gia đình mạnh dạn sinh con và chăm sóc người già tốt hơn”, anh Quân nêu chia sẻ.
Lý giải cơ sở đề xuất, đại diện Bộ Tài chính cho biết mức này được xây dựng dựa trên chi tiêu thực tế của người dân. Năm 2024, chi tiêu y tế bình quân khoảng 3,5 triệu đồng/người, riêng điều trị nội trú khoảng 10,2 triệu đồng/người. Chi tiêu giáo dục – đào tạo bình quân đạt 9,6 triệu đồng/người.
Với tỷ lệ người nộp thuế/người phụ thuộc là 0,8, tổng chi cho hai nhóm dịch vụ này ước khoảng 20,4 triệu đồng/năm cho y tế và 19,2 triệu đồng/năm cho giáo dục. Đây là cơ sở để cơ quan soạn thảo xây dựng các mức giảm trừ.
Tuy nhiên, Bộ Tài chính đang tiếp tục tổng hợp góp ý, trên cơ sở đó sẽ tiếp thu, chỉnh lý và báo cáo cấp có thẩm quyền.
Nguồn: vtcnews.vn
- Giá xăng dầu hôm nay 14/6: Căng thẳng Trung Đông đẩy giá dầu tăng mạnh
- Sài Gòn Center và Ngân Hàng Vietinbank TP.HCM ký thoả thuận hợp tác cho khách hàng vay mua nhà dự án Green Valley City
- Một năm kinh tế nằm ngoài dự liệu của Fed
- Giá vàng hôm nay 28/6: Lo ngại FED tăng lãi suất, kim loại quý giảm nhiệt
- Thị trường bất động sản đến thời “chọn mặt gửi vàng”
- ‘Làng trong phố’ chen chúc giữa đô thị: Cảnh sống chật chột, tăm tối khó tin
- Tiền vào chứng khoán nhỏ giọt, điều gì đang diễn ra?
- Hà Nội duyệt quy hoạch khu đô thị Sóc Sơn có trường đua ngựa 420 triệu USD


















